Thời hiệu xử phạt và thời hạn truy thu thuế

Viết ngày bởi hoa nguyễn

*Chi tiết Thời hiệu xử phạt và thời hạn truy thu thuếtheo quy định:

1. Điều 155 trong Bộ Luật Dân Sự
2. Thông tư 166/2013/TT-BTC.

Khi doanh nghiệp có hành vi vi phạm hành chính về thuế, nếu còn trong thời hiệu sẽ bị xử phạt.
Nếu hết thời hiệu sẽ không bị xử phạt. Vậy thế nào là thời hiện xử phạt hành vi vi phạm hành chính về thuế?

 

1. Thời hiệu xử phạt hành vi vi phạm hành chính về thuế

– Theo Điều 155 trong Bộ Luật Dân Sự, thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện. Vậy thời hiệu trong việc xử phạt hành vi vi phạm hành chính về thuế được xác định như thế nào?
– Tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư 166/2013/TT-BTC có quy định như sau:

“1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế
a) Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế thì thời hiệu xử phạt là 02 năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện đến ngày ra quyết định xử phạt. Ngày thực hiện hành vi vi phạm hành chính về thủ tục thuế là ngày kế tiếp ngày kết thúc thời hạn phải thực hiện thủ tục về thuế theo quy định của Luật quản lý thuế.

– Đối với trường hợp làm thủ tục thuế bằng điện tử thì ngày thực hiện hành vi vi phạm hành chính về thuế là ngày kế tiếp ngày kết thúc thời hạn làm thủ tục thuế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
b) Đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm; hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì thời hiệu xử phạt là 05 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm đến ngày ra quyết định xử phạt. Ngày thực hiện hành vi vi phạm là ngày tiếp theo ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế mà người nộp thuế thực hiện hành vi vi phạm.

– Đối với các trường hợp theo quy định của pháp luật cơ quan thuế phải ra quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế thì thời điểm xác định hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm, hành vi trốn thuế là ngày tiếp theo ngày cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế.
– Trường hợp kỳ tính thuế có hành vi vi phạm nếu được gia hạn nộp thuế thì thời hiệu xử phạt tính từ ngày kế tiếp ngày được gia hạn nộp hồ sơ khai thuế đến ngày ra quyết định xử lý.

c) Đối với trường hợp hồ sơ do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế để xử lý theo quy định tại Điều 25 Thông tư này thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính áp dụng theo quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều này. Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

d) Trong thời hiệu quy định tại Điểm a, b, c Khoản này mà người nộp thuế cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu tại Điểm a, b, c Khoản 1 Điều này mà thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế được tính lại kể từ thời điểm thực hiện hành vi vi phạm mới hoặc thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

Ngày chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt là ngày người vi phạm tự giác đến cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt trình báo và nhận thực hiện các hình thức xử phạt của người có thẩm quyền xử phạt. Người có thẩm quyền phải lập biên bản ghi nhận việc này và lưu 01 bản vào hồ sơ vi phạm, 01 bản giao cho người vi phạm.”

 

Dao-tao-ke-toan-Excel-Cong-ty-Bac-Thanh

 

= > Theo quy định trên, thời hiệu xử phạt hành vi vi phạm hành chính thuế cụ thể là:

1. Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế, thời hiệu xử phạt hành chính về thuế là 02 năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện đến ngày ra quyết định xử phạt;
2. Đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm; hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì thời hiệu xử phạt là 05 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm;

2. Thời hạn truy thu thuế

– Theo Khoản 2 Điều 4 Thông tư 166/2013/TT-BTC quy định về thời hạn truy thu thuế đối với những hành vi vi phạm hành chính về thuế như sau:
“2. Thời hạn truy thu thuế
– Quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước trong thời hạn 10 năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.
– Trường hợp, người nộp thuế không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp tiền thuế cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Ngày phát hiện hành vi vi phạm hành chính về thuế là ngày lập biên bản vi phạm hành chính về thuế.”
Theo quy định trên, quy định về thời hạn truy thu thuế cụ thể là:
Thời hạn truy thu thuế đối với những hành vi vi phạm hành chính về thuế là 10 năm, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.
Đối với trường hợp, người nộp thuế không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế, số tiền trốn thuế, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp tiền thuế cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm hành chính về thuế.

3. Thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế

– Tại Khoản 3 Điều 4 Thông tư 166/2013/TT-BTC quy định rất rõ ràng đối với thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế như sau:
“3. Thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế
Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính thuế theo hình thức phạt tiền (là ngày thực hiện xong các nghĩa vụ, yêu cầu ghi trong quyết định xử phạt hoặc từ ngày quyết định xử phạt được cưỡng chế thi hành) hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đó.”
= > Theo đó, trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt hành chính về thuế nếu trong thời hạn 06 tháng hoặc 1 năm kể từ ngày chấp nhận xử phạt cảnh cáo, ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính về thuế theo hình thức phạt tiền hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành mà không tái phạm những hành vi vi phạm hành chính về thuế thì được coi như chưa bị vi phạm hành chính về hành vi đó.

Tags: ,

Loading Facebook Comments ...

Gửi phản hồi

*